Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2012

Sự tích chữ SONG HỶ dùng trong đám cưới

       Tương truyền rằng, thuở thiếu thời, Vương an Thạch rất thông minh dĩnh ngộ, học đâu nhớ đấy. Năm ấy, triều đình mở khoa thi để tuyển chọn nhân tài. Vương viên ngoại cho vài gia nhân, tiểu đồng tháp tùng Vương trẩy kinh ứng thí... Trên đường đi, thày trò tạt vào Tây gia trang xem hội đèn kéo quân. Hội đèn của Tây gia trang quả là đẹp, tưng bừng lộng lẫy. Qua cửa một nhà, Vương thấy có đôi liễn trắng treo ở hai bên cổng, mới chỉ có một vế là "Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ" (đèn kéo quân, quân chạy được nhờ đèn, đèn tắt, quân dừng lại). Vương lẩm nhẩm đọc, nghĩ một hồi mà vẫn chưa tìm được vế đối...
      Trong trường thi quan chủ khảo thấy họ Vương văn hay chữ tốt, khí khái mà lại nho nhã, khoáng đạt. Quan vừa ý lắm bèn cho lính gọi Vương lên hỏi chuyện, Vương ứng đối nhanh nhẹn, trôi chảy. Để thử tài, ông chỉ lên cột cờ dựng giữa trường thi, lá cờ vẽ hình một con hổ đang bay phấp phới trong gió và ra một vế đối: "Phi hổ kỳ, kỳ phi hổ, kỳ quyển hổ tàng thân". Vương chau mày nghĩ ngợi. Bỗng hình ảnh hội đèn kéo quân và câu đối ở trước cổng nhà kia hiện lên trong đầu. Vương nhẩm lại câu đối rồi thưa: - Bẩm đại nhân, tiểu sinh xin đối là: "Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ". Quan chủ khảo nhẩm lại câu đối của Vương, ông không nói gì, chỉ gật đầu cho Vương lui. Nhìn chàng nho sinh khoan thai đi về chỗ, ông mỉm cười hài lòng. Thi xong, thầy trò Vương trở lại quê nhà. Hội đèn kéo quân của Tây gia trang vẫn chưa kết thúc. Thày trò Vương lại trở lại ngôi nhà có đôi liễn ở ngoài cổng. Vế đối vẫn để trắng, chưa có ai đối được. Chủ nhà thấy Vương có dáng đàng hoàng, nho nhã liền mời vào đại sảnh. Sau tuần trà nước, chủ nhà hỏi: - Công tử đi đâu lại ghé qua gia trang của lão? - Thưa Viên ngoại, tiểu sinh lên kinh đi thi trở về. - Thế thì hay quá. Câu đối kia mới có một vế. Hội đèn gần tàn rồi mà chưa có ai đối. Công tử vui lòng cho lão vế đối được chăng? - Thưa... Chỉ sợ tiểu sinh tài hèn, không đáp ứng được lòng mong mỏi của viên ngoại. Viên ngoại cả mừng, sai gia nhân mài mực, chọn bút. Nghe tin đã có người viết tiếp câu đối, mọi người trong hội đèn kéo nhau đến xem. Vương vén áo, chấm mực, phóng tay viết lên tấm liễn trắng vế đối của quan chủ khảo trường thi: "Phi hổ kỳ, kỳ phi hổ, kỳ quyển hổ tàng thân". Nét bút như rồng bay phượng múa, theo nét tay đưa, hiện dần lên trên tấm liễn trắng trong tiếng trầm trồ thán phục của mọi người. Chữ cuối cùng vừa viết xong, tiếng vỗ tay tán thưởng nổi lên mãi không dứt. Đưa bút cho gia nhân, Vương quay sang viên ngoại vòng tay thưa: - Thưa viên ngoại, tiểu sinh văn dốt, tài hèn. Có gì không vừa ý xin viên ngoại thể tất cho. - Không dám! Không dám! - Viên ngoại nói - Thế này là vinh hạnh cho lão lắm... Thế này là lão mãn nguyện lắm rồi. Viên ngoại hối thúc gia nhân làm tiệc khoản đãi thày trò Vương. Trong bữa tiệc, qua hỏi han gia thế và biết Vương chưa có vợ, Viên ngoại nói: - Chẳng giấu gì công tử. Vợ chồng lão hiếm hoi chỉ được một mụn con gái cũng đã đến tuổi cập kê. Nếu công tử không chê gia thế lão bần tiện, không chê con gái lão vụng dại, xấu xí thì xin cho nó được nâng khăn sửa túi hầu hạ công tử. - Thưa viên ngoại - Vương nói - Việc định bề gia thất là việc lớn, tiểu sinh không thể tự quyền quyết được. Xin cho tiểu sinh về thưa lại với song đường đã... Về đến nhà, Vương thưa chuyện lại với cha mẹ. Vợ chồng Vương viên ngoại cả mừng. Từ đó hai gia đình đi lại kết thân với nhau, rồi chọn ngày lành tháng tốt cho đôi trẻ thành thân nên vợ nên chồng. Hôm đón dâu về, cả Vương gia trang vui như ngày hội, mừng cho đôi trai tài gái sắc. Hôn lễ đang cử hành, bỗng đâu một đoàn quan quân rầm rập kéo về, hỏi đường đến nhà Vương viên ngoại. Dân làng nhao nhác, không biết việc gì xảy ra. Một vị mệnh quan triều đình dõng dạc nói: - Vương An Thạch tiếp chỉ triều đình. Cả nhà vội vã bày hương án, quỳ xuống tiếp chỉ. Chỉ dụ ban rằng Vương An Thạch đã được đỗ đầu khoa thi, hẹn ngày giờ lai kinh nhậm chức. Dân làng thở phào nhẹ nhõm. Tuyên chỉ xong, vị mệnh quan triều đình nói: - Ta có lời mừng cho Vương tiên sinh. Vừa tiểu đăng khoa lại đại đăng khoa luôn. Mừng cho hai nhà có rể thảo dâu hiền. Vương viên ngoại bày tiệc khoản đãi quan quân triều đình. Khắp Vương gia trang lại càng tưng bừng náo nhiệt hơn vì tin vui quá lớn. Vương An Thạch trầm ngâm suy nghĩ rồi sai gia nhân lấy hai vuông lụa điều lớn, viết lên mỗi vuông hai chữ hỷ liền nhau. Một vuông cho dựng cột treo giữa sân nhà. Còn vuông kia sai gia nhân mang lên Tây gia trang báo cho nhạc phụ, nhạc mẫu biết. Viên ngoại ở Tây gia trang mừng rỡ, cũng cho treo vuông lụa lên một cây cột cao dựng ở giữa sân nhà. Từ đó, trong đám cưới người ta đều dùng chữ song hỷ treo trước nhà, trước cổng mặc dù không ai có được hai việc vui lớn cùng một lúc như Vương An Thạch. Do đó, chữ song hỷ dùng trong hôn lễ có nghĩa là việc vui của hai họ, hai nhà. Chữ song hỷ đã trở thành biểu trưng, biểu tượng của hôn nhân. Tiện đây, người sưu tầm xin cung cấp, hiến bạn đọc một giai thoại hay về Vương An Thạch: Sau này, khi đã làm đến chức quan to trong triều, có một năm, Vương được triều đình cử làm giám khảo một khoa thi để tuyển chọn nhân tài. Trong lúc duyệt lại bài do các quan giám khảo khác chấm, Vương chú ý tới bài của một nho sinh. Càng đọc Vương càng bị cuốn hút bởi kiến thức uyên thâm, giọng văn trôi chảy, tao nhã, lịch lãm của nho sinh nọ. Bỗng Vương cau mày khi đọc đến hai câu thơ: Minh nguyệt sơn đầu khiếu Hoàng khuyển ngọa hoa tâm (Ánh trăng hót ở đầu núi Con chó vàng nằm ở giữa bông hoa) Tưởng mình hoa mắt nhìn nhầm, Vương đọc đi, đọc lại mấy lần rồi cầm bút chữa sang bên cạnh chữ khiếu thành chữ chiếu, chữ tâm thành chữ âm. Câu thơ trở thành: Minh nguyệt sơn đầu chiếu Hoàng khuyển ngọa hoa âm. (Ánh trăng chiếu ở đầu núi Con chó vàng nằm dưới bóng bông hoa) Vương suy nghĩ: - Nho sinh này văn hay chữ tốt như thế mà sao lại cẩu thả vậy? Người cầm bút mà sai lầm, cẩu thả thì tác hại đã lớn. Người làm quan mà sai lầm, cẩu thả thì tác hại lại càng lớn hơn vì nó liên quan đến miếng cơm, manh áo, cuộc sống của bao nhiêu người dân. Có khi nó còn liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc, cả đất nước nữa. Quan càng làm to mà sai lầm thì tác hại càng lớn, nhiều khi không thể lường hết được... Không! Không thể để nho sinh này đỗ được...
       Một thời gian sau, Vương được cử đi kinh lý ở một vùng biên ải, xa xôi. Một đêm trăng sáng, Vương một mình tha thẩn trong vườn hoa ở dịch quán để thưởng ngoạn trăng và tìm tứ thơ. Bỗng Vương nghe văng vẳng có tiếng chim hót. Tiếng chim hót trong vắt, lảnh lót trong ánh trăng huyền ảo... sao mà quyến rũ, sao mà nên thơ... Sáng hôm sau, thấy có người lúi húi ở vườn hoa trong khuôn viên dịch quán, Vương lại gần để hỏi về tiếng chim hót tối qua. Thấy người này đang bắt sâu ở những bông hoa, Vương hỏi: - Sâu này gọi là sâu gì? - Bẩm đại nhân. Đây là giống sâu Hoàng Khuyển. Nó nằm ở giữa bông hoa thế này, ăn cánh hoa, tiết chất độc ra làm cho hoa tàn rất nhanh. Nếu không bắt đi, nó sẽ sang phá các bông hoa khác. Vương giật mình vội hỏi tiếp: - Thế đêm qua ta nghe có tiếng chim hót thì đấy là chim gì? - Bẩm đại nhân. Chúng con cũng không biết nó là chim gì. Ở vùng này chưa ai nhìn thấy nó, không biết nó to bé, màu sắc thế nào. Vì nó chỉ hót vào những đêm trăng sáng nên chúng con gọi nó là chim Minh Nguyệt. Vương không nói gì thêm nữa, thở dài đi vào. Vừa đi Vương vừa lẩm bẩm kết tội mình: - Thôi thế là ta đã đắc tội với dân, với nước rồi. Vì thiếu hiểu biết mà ta đã bỏ mất một nhân tài. Người đúng là nho sinh kia chứ không phải là ta. Người đáng bỏ đi là ta chứ không phải nho sinh kia. Câu thơ "Minh Nguyệt sơn đầu khiếu, Hoàng Khuyển ngọa hoa tâm" sao mà đúng, sao mà hay vậy! Ngồi thừ trước bàn trong dịch quán, nhắp chén rượu giải buồn, Vương than: "Hung trung vô tam vạn quyển thư, nhãn trung vô thiên hạ kỳ sơn xuyên vị tất năng văn" (Trong bụng không có ba vạn quyển, mắt không thấy được những điều kỳ thú trong núi sông thiên hạ thì không thể có những áng văn hay được). Niềm day dứt, nỗi ân hận của Vương An Thạch và lời than của ông há chẳng đáng để chúng ta suy ngẫm và làm bài học hay sao?
Chữ song hỷ được dùng trong đám cưới từ bao giờ? 9:00, 29/03/2012 Lê Đình Lai (sưu tầm, biên soạn) 
 L.Đ.L

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét