Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

Một đời lận đận


Một đời lận đận
       Có lẽ trong số con cháu chúng ta ít ra cũng có người từng được một lần nghe Mệ kể về các chuyến đi trong đời, với những cuộc hành trình bất an của Người. Mỗi chuyến du hành trở về của Mệ đều có những tình huống hấp dẫn đến khó tin. Con cháu khi nghe kể chỉ biết vâng dạ cho Mệ vui, chứ thực ra trong bụng cứ nghỉ có lẽ là Mệ chỉ tưởng tượng mà thôi. Trên thế giới đã từng có những trường hợp một cá nhân nào đó luôn gặp sự cố bất lợi xảy ra cho bản thân trong suốt cuộc đời. Bởi vậy lúc Mệ còn sức khỏe, với bản tính trung thực, hoạt bát và rất thận trọng nên chắc hẳn Mệ là một trong những trường hợp đặc biệt như đã đề cập ở trên. Từ đó chúng ta mới cảm thông được với nổi niềm của Mệ, luôn là người thiếu may mắn, nên đã gặp phải những chuyện phiền toái, bất an cho bản thân trong những cuộc viễn du là vậy.
      Hồi đó con cháu của Mệ ở rãi rác các nơi như Sài Gòn - Đà Lạt - Quãng Ngãi. . . nên thỉnh thoảng nhớ con hoặc có tin mừng về một đứa cháu vừa ra đời là Mệ lại lên đường đi thăm con gái mới sinh. Tuy không phải nhọc nhằn vì nuôi con đẻ hay chăm cháu dại, nhưng mỗi chuyến đi về của Mệ đều gặp phải những tình huống không may mà phải một thời gian khá dài Mệ mới bình tâm được. Nhọc nhằn chen lấn hay chờ đợi trên các chuyến xe khách cũ kỹ, thiếu an toàn thời bao cấp chưa hẳn đã khiến Mệ e ngại.
       Tuy nhiên theo lời Mệ kể trong lần từ Đà Lạt trở về, qua một quãng đường đèo đột nhiên xe khách có hiện tượng bốc cháy. Mệ cùng hành khách nhanh chóng rời khỏi xe trong sự hổn loạn, đã khiến Mệ bị ám ảnh nhiều trong chuyến đi ngày đó.
       Mệ cũng có duyên bất đắc dĩ với các biến cố lớn trong đời sống, đó là các đợt đổi tiền đến hai lần vào thời bao cấp. Mệ phải vất vả trong tư cách là người được đổi tiền vãng lai, thấp thỏm với khoản tiền qui đổi nhận được quá ít khi rời nhà vào Quãng Ngãi và Đà Lạt thăm con cháu.
       Trong chuyến vào Sài Gòn cưới vợ cho con trai út năm 1984, lúc tròn 70 tuổi Mệ đã tuyên bố: " từ nay trở đi Mạ chỉ ở nhà mà thôi, chớ không thèm đi xa nữa mô ".  Mới nghe qua ai cũng nghỉ chắc Mệ hài lòng khi đã dựng vợ gã chồng xong xuôi cho bầy con chín đứa, đến phiên cậu út là người sau chót.Nên từ nay Mệ có thể ở nhà nghỉ ngơi được rồi. Tuy nhiên tình huống mà Mệ đã trãi nghiệm trên chuyến tàu hỏa vào Nam lần đó mới là nguyên nhân chính cho một phát tâm không thể lay chuyển.
       Thời bao cấp phương tiện đi lại khó khăn, do phải vào để kịp lo đám cưới cho con trai nên Ôn Mệ phải đi tàu lửa chui không có vé để ngồi. Nhờ quen biết, chú Duyên ( con rể ) đã nhờ người dẫn Ôn Mệ vượt rào, đi từ dốc Nam Giao sau chùa Báo Quốc để vào sân ga. Sau đó được đưa lên một toa kiếm chổ trống dưới sàn tàu cho Ôn Mệ ngồi để vào Sài Gòn. Do đầu hè nên lượng khách đi tàu rất đông, việc đi lại trên toa càng trở nên khó khăn. Ngại di chuyển bởi vướng người nằm ngồi la liệt, cũng như sợ WC không vệ sinh, nên Mệ đành nín nhịn bài tiết. Suốt cả chặng đường hai ngày một đêm như vậy quả thật là một cực hình tra tấn Mệ phải cam chịu. Vào tuổi thất thập, cơ chế bài tiết thường cấp bách khó kiểm soát, thế mà phải nín nhịn quá lâu nên đến Sài Gòn hầu như Mệ đã kiệt sức. Điều đó luôn ám ảnh khi nghỉ về những cuộc hành trình phải trãi qua, nên Mệ mới hạ quyết tâm chẳng thèm đi mô xa nữa là vậy.


       Một chuyến đi đặc biệt khác, tưởng rằng Mệ sẽ mãn nguyện, nhưng rốt cục Mệ cũng chẳng được trọn vẹn niềm vui. Đó là vào năm 76, khi hay tin cậu con trai út đã rửa sạch bụi chiến tranh trở về, Mệ lên đường vào Đà Lạt để đón con. Chuyến quay về Huế, nhờ có ông anh rể dân Đà Lạt tháo vác nên đã kiếm được vé cho hai mẹ con ngồi cạnh nhau thoải mái trên chuyến xe khách liên tỉnh ngày đó. Do lâu ngày gặp lại, cộng với bản tính của Người, nên suốt chặng đường Mệ đã dành cho con trai sự chăm sóc trên cả sự chu đáo. Xe vừa lăn bánh một lúc là Mệ đã vội vàng lấy thực phẩm dự phòng đi đường ra cho ăn. Chưa đến bữa nhưng để mạ vui nên cậu út đành phải ăn. Đến trạm dừng chân đón khách, cánh bán quà rong tranh nhau mời mua, Mệ cũng sốt sắng chọn mua mấy trái bắp cho vào giỏ xách. Tiếp tục đi, Mệ lấy bắp ra lột vỏ đưa cho con và rủ cùng ăn, lại miễn cưỡng nhận để gặm dần. Thế rồi còn bao nhiêu chặng dừng xe dọc đường nữa với những món quà rong đa dạng ( đậu phụng luộc, bánh tráng nướng, trứng gà luộc . . . ), Mệ lại tiếp tục mua hay hỏi con có muốn ăn không thật tội nghiệp. Do không thích ăn vặt hơn nữa còn trẻ nên rất ngại ánh mắt nhìn của hành khách trên xe qua sự chăm sóc quá chu đáo của Mệ. Cậu út nhà ta bắt đầu hết kiên nhẫn nên liên tục trả lời "dạ không" khi được hỏi ăn các món kế tiếp. Chặng đường còn lại ngoài bữa chính hai mạ con cùng ăn thì những thứ quà vặt Mệ mời đều bị từ chối. Tránh trả lời cộc lốc cậu út đã nói một câu khá dài : " con không ăn nữa mô, mạ thích thì cứ mua dùng một mình" đã khiến Mệ buồn. Sầm nét mặt Mệ nói: " chừ thì mời chi cũng không ăn, mai mốt mạ chết đi rồi hối hận đó". Nghe lời trách cũng cảm thấy chột dạ, nhưng con vẫn tiếp tục từ chối ăn vặt, làm mạ phật ý mặt buồn rượi không thèm nói chuyện nữa.
        Những chuyến đi liên quan đến tâm linh, với niềm tin tuyệt đối của mình Mệ vẫn cầu xin cho gia đình luôn được bình an và sức khỏe. Nghe nói Mệ đã từng ra tới La Vang Quảng Trị múc nước giếng ở thánh địa và mua lá vằn đem về cho gia đình uống nữa. Khoảng năm 1965 có lần Mệ đi theo một nhóm người vào Đà Nẵng để gặp một vị được mọi người gọi là "ông Ngài" có thể giải trừ được bách bệnh. Mệ kể đã theo đoàn lên Ngũ hành sơn, vượt hết 108 bậc tam cấp mỗi bước một lạy. Mặc dầu trước đó hay bị nhức mỏi, nhưng về nhà Mệ nói không còn thấy đau nhức gi cả. Không biết Mệ gặp duyên may hoặc ngoại giao giỏi nên đã mời được "ông Ngài"  ghé nhà chủ trì một lễ có nhiều khách lạ tháp tùng. Sau buổi cúng Phật và niệm chú của "ông Ngài",  Mệ cho thu gom những tách trà giả ngọc đủ màu là quà đám cưới thời chị Lan và anh Sam trước đó để xem xét. Khi thấy chiếc tách nào có vệt sướt mờ mờ tượng hình hoa sen là Mệ mừng rỡ, cho đưa vào bàn thờ để chưng cúng. Mệ xem đây là chứng tích linh hiển mà ông Ngài đã dành cho gia đình mình vậy.


        Cùng dịp đó một biểu tượng tâm linh từng xuất hiện trên mặt đá cẩm thạch hình trái tim viền bạc mà Mệ thường đeo trên dây chuyền trang sức. Lúc rảnh rỗi Mệ thường chăm chú nhìn vào một cách thích thú. Hể có ai đến gần trò chuyện là Mệ lại đem khoe và hỏi: " con có thấy giống mặt đức Phật không". Nếu con cháu đứa nào trả lời: " dạ có thấy chi mô " là Mệ xì một tiếng rồi nói: " đồ cứng đầu cứng cổ ". Thật ra thì miếng đá cẩm thạch màu xanh của Mệ sử dụng lâu ngày đã lên nước, tạo thành những đám mây màu trắng, nếu chịu khó tưởng tượng sẽ hình dung được những gì mình nghỉ. Hồi đó duy nhất chỉ có anh Trí ba của cháu Trung từng đồng tình trả lời với Mệ là " dạ phải rồi, chổ nầy nè mạ " cùng động tác chỉ vào mảnh đá. Biết đâu tâm Phật mới thấy được Phật, nên cả hai mạ con luôn trò chuyện về chủ đề trên rất tâm đắc. Mệ đã từng dành cho anh Trí (chồng chị Nhuận ) những tình cảm thật đặc biệt. Một người con rể thân tình dám mời Mệ uống bia, hút thuốc lá, đánh bài ngày Tết thuở ấy, nhưng cả hai đều phải dấu Ôn kẻo sợ bị la rầy. Chắc hẳn ngoài sự ứng xử chu đáo, chân tình của mình với gia đình bên vợ ra thì anh Trí còn là người biết đồng cảm, chia sẻ cùng Mệ một đức tin ngời sáng như đã kể phần trên.


        Không thể không nhắc đến những chuyến đi trong ngày, gần nhà của Mệ. Đó là những buổi đi viếng chùa lễ Phật. Với bạn đồng hành của Mệ từng được đề cập gồm các bà Mai, bà Thông, bà Lê, bà Quế. Hàng tháng một hai lần Mệ đều thu xếp việc nhà lên chùa lễ bái. Để đỡ mỏi chân và tiết kiệm chi phí, Mệ cùng các bà hùn tiền thuê xích lô đạp để ngồi. Không biết ông đạp xích lô chịu giá bao nhiêu mà chở được một lúc cả bốn năm bà lão. Hình dung lúc đó hai bà ngồi trên cho người khác ngồi lên chân, người còn lại thì thu mình ngồi dưới sàn chổ để chân. Một hôm có lẽ không gặp xe quen nên các bà đã bị một phen hú vía. Mệ kể lúc xe đang chạy bất ngờ lật nghiêng, các bà lồm cồm bò dậy, may không ai bị gì nặng. Có thể do lách tránh hay qua cua thế nào mà chiếc xe bị nhổm bánh sau, hất văng cả ông đạp xe phía sau. Từ đó nếu không đi bộ thì đành chia làm hai chuyến, chứ chẳng dám ngồi chung nữa. Nghe Mệ kể lại con cháu không thể nhịn được cười, thật là tội nghiệp.

        Khuya 29/11 âm lịch năm Nhâm Ngọ, mùa đông xứ Huế năm đó trời lạnh buốt khác thường, như một điềm báo chia ly. Mệ đã thanh thản vân du đến miền Tây Phương cực lạc , rời xa thân quyến mãi mãi. Để rồi về sau con cháu chúng ta không thể nào quên : 28 tháng 11 âm lịch hằng năm là ngày kỵ Mệ. Suốt một đời lận đận bất an, rốt cục Mệ đã được Ôn chu toàn bằng một chuyến tiễn biệt thật hoành tráng, trong một sớm mai sương mù buốt giá.Với đông đảo con cháu và người thân quen lặng lẽ nối đuôi đoàn xe tang, để đưa Người về nơi an nghỉ cuối cùng.    
       Mùa An Cư Kiết Hạ - Quý Tỵ - 2013.  Tôn thất Bân  
       

        
        






                 
      
              
       

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét