Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Quốc Học với ký ức một thời Khải Định - Đồng Khánh

Bia Quốc Học hay còn gọi Đài chiến sĩ trận vong
      Khải Định và Đồng Khánh là niên hiệu của hai ông vua Triều Nguyễn. Đồng Khánh là vua cha, Khải Định là vua con. Nhưng Khải Định nghĩ về Đồng Khánh không phải là câu chuyện ông vua con nghĩ về ông vua cha. Đây là câu chuyện người học trò con trai nghĩ về người học trò con gái. Thật vậy, Khải Định và Đồng Khánh là niên hiệu của hai ông vua Triều Nguyễn đã được đem đặt tên cho hai ngôi trường trung học nổi tiếng ở Huế, Trường Trung Học Khải Định và Trường Nữ Trung Học Đồng Khánh. Khải Định nghĩ về Đồng Khánh là câu chuyện người học trò con trai ở trường Khải Định nghĩ về người học trò con gái trường Đồng Khánh kế bên.
      Trường Khải Định và trường Đồng Khánh cùng quay mặt ra đường Lê Thái Tổ. Phía trước là sông Hương. Bên kia sông là Kinh thành, một giải trường thành rêu phong cổ kính, vọng lâu ngất ngưỡng, kỳ đài vòi vọi. Hai ngôi trường ở kế bên nhau, cách nhau một con đường nhỏ, có bờ tường thấp. Cách nhau một con đường cho có lệ vậy thôi, chừng như để nhắc nhở những cặp chim non tập tễnh những bước đầu đời trên con đường phiêu lưu tình cảm cần lưu tâm đến miệng thế thị phi. Chứ đường ngang lối tắt Thành phố Huế thiếu gì ngõ ngách quanh co, mà học trò hai trường mỗi lần bãi học, tuy cách nhau trước sau mười lăm phút, nhưng cứ như là ong vỡ tổ, người đi xe đạp, kẻ đi bộ, nếu có tình ý chi mà "kẻ nhìn tận mặt người e cúi đầu" thì có thiếu gì cơ hội, cần chi phải tìm gặp nhau nơi con đường nhỏ ngăn đôi hai bờ tường! Nói cho ngay thì con đường nho nhỏ ngăn đôi hai ngôi truờng cũng đã từng có huyền thoại.
       Hồi tôi mới chân ướt chân ráo vào trường Khải Định cuối năm 1945, tôi đã được các anh lớn kể cho biết trước kia, khi còn có nội trú bên trên các dãy lầu của Khải Định và Đồng Khánh, có đôi tình nhân học trò yêu nhau thắm thiết mặn nồng, nhưng "yêu nhau thì đặng mà lấy nhau thì không đặng" nên cả hai, vào một đêm nhạt ánh trăng sao đã leo lên cửa sổ phòng nội trú, bám vào ống máng, chàng bên này lầu tây, nàng bên kia lầu đông, cách nhau một con đường nhỏ có bờ tường thấp, để "nhìn nhau mà lệ ứa" hết khóc lại than, rồi trong một lúc quá đau đớn mà mất cảnh giác nên sẫy tay, để thân xác rơi xuống lòng đường nặng nề như hai trái mít rụng, nát thịt tan thây. Người đời cho rằng thôi thế cũng là hay, cát bụi lại trở về với cát bụi, cứ để họ trả cho xong cái nợ hình hài, rồi tình yêu ấp ủ bấy lâu sẽ theo gót linh hồn vừa được giải thoát mà thăng hoa vào cõi vĩnh hằng. Truyện kể như vậy, hồi nhỏ tôi nghe thì nghe vậy thôi, thơ ngây chẳng nghĩ ngợi gì.
      Sau này khôn lớn, nhớ lại chuyện xưa, tôi nghĩ rằng câu chuyện chẳng hợp lý cho lắm. Trường nội trú đâu phải là trại giam kiên cố đối với người tình học trò con trai, càng không phải là cung cấm thâm nghiêm đối với người tình học trò con gái. Vậy thì cuối tuần nghỉ học, thiếu gì cơ hội gặp nhau. Lầu đông lầu tây tuy có ngăn cản chim xanh đưa tin đi lại trong những ngày đi học, nhưng chiều chiều tan lớp, chàng bên này đường, nàng bên kia đường, vẫn có thể nhìn nhau qua đôi khung cửa sổ, để cho chàng mơ mộng :
        "Lầu tây đối diện lầu đông,
        "Nắng chiều đỏ ối nhuộm hồng chấn song.
        "Vẩn vơ lòng những hỏi lòng,
        "Người đâu ở chốn lầu đông áo hồng? và mong ước :
        "Mơ theo lá gió chim cành,
        "Luồn qua ngăn cách cho mình có nhau.
         " Rồi tình cảnh có trắc trở, duyên phận có bẽ bàng, có muốn cùng chết bên nhau cho trọn vẹn lời thề thì thiếu gì nơi thuận lợi, này cầu Bạch Hổ, này Ngã ba Sình, sông sâu nước chảy, chỉ một phút buông xuôi là rũ sạch nợ đời, việc gì phải leo lên khung cửa sổ, bám vào ống máng bờ tường để tìm cái chết nặng nề, đã không thơ mộng mà lại cũng chẳng thoải mái chút nào


          Theo với thời cuộc đổi thay, con đường biên giới giữa hai ngôi trường cũng thay đổi theo. Đầu năm 1946, trường Khải Định được nhường cho quân đội Pháp đóng quân. Cho đến hơn mười năm sau, khi quân dội Pháp rút về nước và trường Khải Định lấy lại tên cũ là Trường Quốc Học, con đường nho nhỏ từng có huyền thoại riêng đã trở nên đìu hiu quạnh quẽ, vắng bóng học trò. Ngay cả người dân thuờng cũng lánh xa con đường đó. Ai dại gì đi qua những lỗ châu mai lấp ló nòng súng và những tròng mắt trắng dã của những nguời lính gốc Phi châu. Con đường biên giới giữa hai ngôi trường bây giờ được chuyển vào bên trong truờng Đồng Khánh. Số là truờng Khải Định, sau một thời gian phải dời vào Đại Nội, rồi qua trường Việt Anh, lên trường Lý Thường Kiệt, giữa năm 1948, được chia một nửa cơ ngơi của trường Đồng Khánh. Khải Định được phân nửa nằm ở phía tây con đường đi từ cổng chính đến sân chơi (préau).
         Học trò của Khải Định đi học, đi vào cổng chính, nhưng chỉ được đi theo con đường đó một đoạn ngắn mà thôi. Qua khỏi văn phòng hiệu trưởng là phải rẽ vào con đường nhỏ đi thẳng đến dãy lầu lớp học. Học trò của Đồng Khánh đi học, đi vào cổng bên, phía dinh Phủ Doãn, qua khỏi cổng là đến ngay dãy lầu lớp học đối diện. Như vậy, con đường biên giới giữa hai ngôi truờng , trừ phần ngoài cổng chính đi vào, không một học sinh nào được phép đi lại. Một số giáo sư và nhân viên ngành giáo dục được bố trí ở trong khuôn viên nhà trường. Những vị có gia đình, trong những ngày tạnh ráo, lúc sáng sớm tinh mơ chưa nổi trống tựu trường, hay những buổi chiều tà sau giờ tan học, thường đưa cả nhà tung tăng đi dạo trên con đường biên giới ngăn đôi phần đất hai ngôi trường Khải Định-Đồng Khánh.


       Trường Đồng Khánh thuở đó chưa có các lớp trung học đệ nhị cấp, nên học trò con gái sau khi thi đậu trung học đệ nhất cấp là phải qua học tiếp bên trường Khải Định. Lớp Đệ tam Khoa học A năm đó được vinh hạnh đón nhận 8 cô, vừa vặn ngồi hai bàn đầu. Có mặt học trò con gái cũng không làm cho bọn học trò con trai tử tế hơn được chút nào. Lý do là vì đa số học trò con trai so ra thì nhỏ tuổi hơn học trò con gái lại chưa biết làm duyên làm dáng. Một số ít lớn tuổi hơn, đã biết ăn biết diện, thì đi tìm thần tượng ở lứa con gái nhỏ tuổi đang còn cắp cặp ngày ngày sắp hàng vào các lớp học ở bên kia con đường biên giới phân chia hai ngôi trường.
      Tết năm đó tôi có bài thơ tám câu ghi tên 8 cô bạn học cùng lớp :
      "Thần Kinh vui đón tiết XUÂN AN,
       "HƯƠNG THẢO bâng khuâng quyện lá vàng.
      "Gió thổi LÊ rơi đầy thạch động
      "Mây đùn lụy nhỏ ngút THIÊN THƯƠNG
      "THANH HÀ một giải chia đôi ngã,
      "THU CÚC mười bông đã chín tàn.
      "Mũi chỉ đường KIM CHI phải bận,
      "CẨM HÀ một bức hóa công ban.
       Bài thơ này chẳng có ý tứ gì sâu sắc, chỉ là loại thơ lắp ghép cho đủ chữ đủ vần, nhưng bọn học trò con trai chúng tôi ồn ào chuyền tay nhau đọc, xem chừng đắc ý lắm. Đến giờ ra chơi, bạn Lê Mộng Quán viết bài thơ lên bảng đen, lại lấy phấn màu tô rồng tô phượng, nắn nót mấy chữ chúc mừng xuân mới rất chi là "hoa lá cành". Nhưng không may cho chúng tôi, giờ học tiếp theo là giờ thầy Phan Ngô. Vừa trông thấy cái bảng đen đầy màu sắc, thầy Phan Ngô đã vội nghiêm nghị nói lớn : "Anh nào viết lăng nhăng lên bảng thì lên chùi đi ngay". Bạn Lê Mộng Quán lại phải vội vã lên bảng xóa sạch tất cả, và chúng tôi tiu nghỉu ngồi im nhìn bụi phấn bay qua khung cửa sổ.
       Một trong những vẻ đẹp linh hoạt của thành phố Huế là cảnh tan học của hai trường Khải Định-Đồng Khánh, nhờ vào dòng người áo trắng nữ sinh. Trường Jeanne d' Arc, trường Mai Khôi, trường Bồ Đề cũng có nữ sinh, nhưng cảnh tan học không bì được với cảnh tan học của hai trường Khải Định-Đồng Khánh. Trường Trưng Vương, trường Couvent du Domaine de Marie ở Hà Nội, trường Trưng Vương, trường Gia Long, trường Marie Curie ở Sài Gòn, những trường này thiếu gì nữ sinh sắc nước hương trời.
      Thế nhưng cảnh tan học của những trường này cũng không bì được với cảnh tan học của hai trường Khải Định-Đồng Khánh. Lý do là vì học sinh những trường này vừa ra khỏi cổng là phân tán ngay ra bốn phương tám hướng. Trong lúc đó, học sinh hai trường Khải Định-Đồng Khánh ra khỏi cổng thì chỉ một phần rất nhỏ ngược lên Bến Ngự, Nam Giao, còn tuyệt đại bộ phận thì theo đường Lê Thái Tổ xuôi xuống phía cầu Trường Tiền, nhiên hậu mới phân rẽ làm hai dòng, dòng qua Thành Nội, dòng xuống Tòa Khâm. Suốt một đoạn đường Lê Thái Tổ từ cổng truờng đến chân cầu Trường Tiền, những tà áo trắng nối tiếp nhau diễn hành, hàng hàng lớp lớp cho người thế gian chiêm ngưỡng. Ai đi xa Huế mà không cảm thấy cái nhớ nhung bàng bạc trong tâm hồn, mỗi khi hồi tưởng đến cảnh tan học Khải Định-Đồng Khánh. Ai trở về Huế khi chưa quá đỗi già nua, nhựa sống trong người chưa cạn kiệt, mà không thử một lần đi ngược đường Lê Thái Tổ vào giờ bãi trường.


        Dù đã đi xa hay vẫn còn ở lại, dù có trở về hay mãi mãi ly hương, những ai xưa kia vốn là người của Khải Định, có khi nào nghĩ về Đồng Khánh, thì trước hết vẫn nghĩ đến cảnh bãi trường Khải Định-Đồng Khánh với dòng người áo trắng nữ sinh : "Ta nhớ kinh kỳ ngày đầu thu năm ấy, "Đường Lê Thái Tổ rải hoa nắng lung linh. "Bím tóc đong đưa xuôi bờ vai nhún nhẩy, "Theo buớc chân em, lòng ta rợn ngợp men tình... Thế là Khải Định nghĩ về Đồng Khánh suốt cả cuộc đời, trọn cả kiếp người. Với tình yêu và lòng bao dung độ lượng : "Đôi ta như keo sơn "Gắn liền thành một khối "Không thể chia lìa. "Mãi mãi đến muôn vạn ngày sau.
                                                                                        Ottawa, tháng tư, 1996 Minh Vũ Hồ Văn Châm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét